You are currently viewing Gãy cổ xương đùi ở bệnh nhân trẻ tuổi-xử lý sớm và đúng cách tránh di chứng.

Gãy cổ xương đùi ở bệnh nhân trẻ tuổi-xử lý sớm và đúng cách tránh di chứng.

Gãy cổ xương đùi ở người trẻ tuổi là một chấn thương nặng và nguy hiểm, nếu không được xử lý sớm và đúng cách thì dễ để lại di chứng hoại tử chỏm xương đùi về sau, khi đó bắt buộc phải thay khớp háng nhân tạo cho bệnh nhân, vì bệnh nhân còn trẻ nên việc phải thay khớp là một điều bất hạnh, lý do là một khớp háng nhân tạo thì thời gian xử dụng trung bình là 15 năm và sau đó phải phẩu thuật lại để thay lại (VD: 1 bệnh nhân 30 tuổi thay khớp háng thì năm 45 tuổi, 60 tuổi, 75 tuổi phải mổ thay lại), mỗi lần như vậy chi phí lần độ khó của cuộc mổ đều tăng rất cao.

– Do chỏm xương đùi có hệ thống mạch máu nuôi nghèo nàn chạy dọc theo cổ xương đùi, nên khi gãy cổ xương đùi dễ gây tổn thương các mạch máu nuôi chỏm xương đùi. Chính vì vậy nguyên tác xử lý gãy cổ xương đùi là pải nắn ổ gãy chính xác, cố định vững chắc bằng dụng cụ chỉnh hình và việc này phải làm càng sớm càng tốt (tốt nhất là trong 24 giờ đầu sau chấn thương) để phục hồi lưu thông máu nuôi chỏm sớm nhằm giảm nguy cơ hoại tử chỏm về sau.

– Dưới đây là một trường hợp thực tế bệnh nhân nam 36 tuổi sau khi té cao đau nhiều vùng háng, không thể đi lại được. Sau khi được chẩn đoán gãy cổ xương đùi, bệnh nhân đã được phẩu thuật cấp cứu ngay trong đêm, nắn chỉnh ổ gãy ít xâm lấn trên bàn chỉnh hình và bắt vít chỉnh hình cố định ổ gãy.

1. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU CỔ XƯƠNG ĐÙI:

Gãy cổ xương đùi là loại gãy xương ở vị trí giữa chỏm xương đùi và khối mấu chuyển. Cổ xương đùi có những đặc điểm về giải phẫu và chức năng làm cho gãy cổ xương đùi là gãy xương nặng, khó điều trị và để lại nhiều di chứng:

  • Xương đùi là xương lớn, cấu trúc xương ở vùng cổ xương đùi có 2 hệ thống bè xương, hệ thống bè quạt ở vùng cổ chỏm xương đùi và hệ cung nhọn ở vùng mấu chuyển, giữa 2 hệ thống bè xương là điểm yếu nhất của cổ xương đùi, gọi là tam giác ward, đây cũng là điểm dễ gãy nhất .
  • Hệ thống động mạch nuôi chỏm xương đùi khá nghèo nàn, lại đi vắt qua cổ xương đùi, nên khi gãy cổ xương đùi đa số các mạch máu nuôi chỏm bị tổn thương, nguy cơ hoại tử chỏm xương đùi cao.
  • Cổ xương đùi gần như nằm hoàn toàn trong bao khớp, khi gãy máu tụ trong bao khớp làm tăng áp lực ổ khớp, tổn thương mạch máu nuôi khớp dẫn đến tình trạng dễ hoại tử chỏm xương đùi

 2. BIẾN CHỨNG VÀ DI CHỨNG CỦA GÃY CỔ XƯƠNG ĐÙI:

2.1. Biến chứng sớm:

Bao gồm các biến chứng cấp tính ngay khi gãy cổ xương đùi và các biến chứng liên quan đến việc nằm lâu, bất động lâu

  • Biến chứng cấp tính:

Các biến chứng cấp có thể gặp như: Sốc mất máu, sốc do đau, tắc mạch mỡ ( do mỡ từ ổ gãy xương xâm nhập vào hệ tuần hoàn), nặng thêm các tình trạng bệnh lý tim mạch, hô hấp có sẵn của người bệnh gây nên các đợt suy tim mất bù, đợt cấp bệnh phổi mạn tính…

  • Các biến chứng liên quan đến nằm lâu, bất động lâu như:

Huyết khối tĩnh mạch chân, huyết khối động mạch phổi, loét tỳ đè, nhiễm trùng ( viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu..), teo cơ, suy dinh dưỡng…

2.2. Các di chứng của gãy cổ xương đùi

  • Hoại tử chỏm xương đùi (Do mất tuần hoàn nuôi chỏm, tuần hoàn tái tạo không đủ để đáp ứng nhu cầu), Khớp giả, Kết hợp xương thất bại.
  • Các di chứng này gây đau, biến dạng chi, hạn chế hoạt động, sinh hoạt.

 

Leave a Reply